MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CÓ SỰ THAM GIA TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG HỆ THỐNG THUỶ LỢI HUYỆN NỎNG BỐC, TỈNH KHĂM MUỘN, NƯỚC CHDCND LÀO (BAO GỒM ĐOẠN KÈ BỜ SÔNG MÊ CÔNG)

Đinh Vũ Thùy

Trung tâm tư vấn PIM

Tóm tắt: Dự án xây dựng hệ thống thủy lợi huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn, nước CHDCND Lào do Chính phủ Việt Nam tài trợ cho nước bạn Lào. Dự án có vai trò hết sức quan trọng trong việc cấp nước sản xuất nông nghiệp và cải thiện dân sinh, kinh tế- xã hội của 04 bản Cút Chắp, Xiêng Vảng, Xiêng Vảng Thông, Soong Mương Nưa của huyện Nỏng Bốc. Dự án cũng góp phần trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Lào. Bài báo này giới thiệu về phương pháp và nội dung hỗ trợ thành lập mô hình quản lý vận hành công trình thủy lợi có sự tham gia trong dự án. Mô hình được thành lập có vai trò tiếp nhận công tác quản lý vận hành công trình thủy lợi sau đầu tư trong dự án.

Từ khóa: Hệ thống thủy lợi huyện Nỏng Bốc, Quản lý vận hành công trình thủy lợi có sự tham gia, Hội sử dụng nước

Abstract: The project to build an irrigation system in Nong Boc district, Kham Muon province, Lao PDR funded by the Government of Vietnam for Laos. The project plays a very important role in supplying water for agricultural production and improving the people’s livelihood and socio-economic status in 04 villages of Cut Chap, Xieng Vang, Xieng Vang Thong and Soong Muong Nua of Nong Boc district. The project also contributes to promoting the friendly cooperation between Vietnam and Laos. This article introduces the methods and contents to support the establishment of a community monitoring model in the project, the community monitoring model is an important basis in organizing and implementing community monitoring in the process project implementation.

Key words: Nong Boc district irrigation system, Participatory Irrigation Management, Water Users Association

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Dự án xây dựng hệ thống thủy lợi huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thực hiện với mục đích cấp nước tưới cho diện tích 500ha đất canh tác thuộc địa bàn 4 bản dân cư là bản Cút Chắp, Xiêng Vảng, Xiêng Vảng Thông, Soong Mương Nưa của huyện Nỏng Bốc thuộc cụm Xoong Muang, huyện Noỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn.

Trước khi dự án được xây dựng thì toàn bộ khu vực vùng dự án chưa có công trình thủy lợi, người dân sử dụng nước mưa để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nên chỉ canh tác được 1 vụ/năm (vụ mùa). Vì vậy dự án được đầu tư xây dựng với mục tiêu cấp nước tưới phục vụ canh tác nông nghiệp trong khu vực dự án đảm bảo canh tác được 2 vụ, nâng cao năng suất và chất lượng cho sản phẩm nông nghiệp góp phần tăng cường phát triển kinh tế- xã hội cho các bản thuộc khu vực dự án. Dự án triển khai xây dựng một hệ thống thủy lợi bao gồm một trạm bơm đầu mối để lấy nước từ sông Mê Kông, một trạm bơm cấp hai để nâng cao cột nước và hệ thống đường ống, kênh mương, công trình trên kênh…để đưa dẫn và điều tiết nước.

Thực tế hiện nay ở Lào cho thấy nhiều công trình thủy lợi (CTTL) sau khi được đầu tư xây dựng đã bị hư hỏng xuống cấp và ngừng hoạt động sau một thời gian bàn giao đưa vào sử dụng. Một trong những nguyên nhân được đánh giá chủ yếu là do thiếu đơn vị quản lý vận hành công trình thủy lợi sau đầu tư hoặc đơn vị được giao chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực để quản lý vận hành công trình thủy lợi. Theo Quy định của Luật Thủy lợi Lào số 26 ngày 01/12/2012 (Phần IV về thành lập hội dùng nước, Điều 60 xác định chức năng và quyền của hội dùng nước và Điều 51 về tài chính để phát triển hệ thống thủy lợi) đã nêu rõ việc quản lý khai thác công trình thủy lợi được giao cho người dân quản lý thông qua các Hội dùng nước/ Hội sử dụng nước (Đây là mô hình người hưởng lợi trực tiếp tham gia vào quản lý vận hành công trình thủy lợi và tự chi trả kinh phí để quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng công trình thủy lợi). Trong khi đó, thực tiễn cho thấy quản lý tưới có sự tham gia (PIM) đã và đang phát huy hiệu quả to lớn ở nhiều nước trên thế giới. Chính vì vậy việc thành lập được một tổ chức quản lý vận hành công trình thủy lợi có sự tham gia là hết sức quan trọng và cần thiết trong dự án. Mô hình quản lý hiệu quả bền vững chính là yếu tố quyết định, then chốt trong thành công của dự án.

II. THÀNH LẬP MÔ HÌNH QUẢN LÝ VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CÓ SỰ THAM GIA TRONG DỰ ÁN

2.1. Quy trình thực hiện thành lập

2.2. Kết quả thực hiện thành lập Tổ chức quản lý vận hành CTTL có sự tham gia

2.2.1.    Bước 1: Khởi động động nâng cao nhận thức

Với mục tiêu nâng cao nhận thức cho cán bộ, lãnh đạo địa phương và người dân về vai trò của dự án nói chung và vai trò của quản lý, khai thác công trình thủy lợi có sự tham gia, đơn vị tư vấn đã tổ chức hội thảo khởi động ở cấp tỉnh, cấp xã.

Hội thảo đã thống nhất thành lập mô hình quản lý vận hành công trình thủy lợi có sự tham gia; Thống nhất về loại hình, quy mô, hình thức tổ chức và hoạt động của mô hình; Thống nhất về danh sách các thành viên tham gia nhóm hành động PIM (PAG) gồm có 13 người đại diện cho các tổ chức có liên quan; Thống nhất về danh sách các thành viên tham gia nhóm “sáng lập” gồm có 11 thành viên là trưởng bản và một số người dân trong vùng dự án.

2.2.2.    Bước 2: Khảo sát đánh giá và đề xuất mô hình

Nhằm phục vụ đề xuất mô hình quản lý vận hành có sự tham gia của người dân phù hợp cho khu vực dự án, đơn vị tư vấn đã tổ chức làm việc với các đơn vị liên quan để rà soát đánh giá về thực trạng quản lý công trình thủy lợi tại Lào và khu vực dự án. Hiện nay Lào đã ban hành Luật Thủy lợi, trong Luật Thủy lợi có nhiều quy định quan trọng liên quan đến quản lý vận hành của người dân. Cụ thể như sau:

  • Luật Thủy lợi số 26 ngày 01/12/2012 (Phần IV về thành lập hội dùng nước, Điều 60 xác định chức năng và quyền của hội dùng nước và Điều 51 về tài chính để phát triển hệ thống thủy lợi) đã nêu rõ việc quản lý khai thác công trình thủy lợi được giao cho người dân quản lý thông qua các Hội dùng nước/ Hội sử dụng nước.
  • Nhà nước không hỗ trợ kinh phí trong quá trình quản lý vận hành công trình thủy lợi, người dân phải tự đóng góp thủy lợi phí theo Quy định tại Nghị định số 26/1998/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ Lào.
  • Về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi: Theo kết quả báo cáo của Cục Thủy lợi Lào thì hiện nay 100% các công trình thủy lợi của Lào đều giao cho các Hội dùng nước quản lý (tổ chức thủy lợi cơ sở). Đối với các công trình lớn có quy mô phục vụ trên 1.000ha thì cấp tỉnh và huyện sẽ cử cán bộ kỹ thuật tham gia hỗ trợ công tác quản lý vận hành của người dân.

Ngoài ra, để mô hình quản lý khai thác CTTL phù hợp với khu vực dự án tại tỉnh Khăm Muộn, đơn vị tư vấn đã phối hợp với nhóm PAG, “Nhóm sáng lập” tổ chức các buổi làm việc với các đơn vị liên quan trên địa bàn tỉnh Khăm Muộn như Sở Nông Lâm nghiệp, Sở Tài chính, Ủy ban chính quyền huyện Nỏng Bốc, các bản hưởng lợi để tìm hiểu rõ hơn về quá trình quản lý khai thác các công trình thủy lợi hiện có trên địa bàn và thực địa hiện trạng công trình.

Sau khi điều tra, khảo sát, đánh giá các bên liên quan đã họp thảo luận thống nhất đề xuất mô hình quản lý khai thác CTTL có sự tham gia phù hợp cho khu vực dự án là mô hình Hội sử dụng nước.

2.2.3.    Bước 3: Thảo luận, thống nhất mô hình

Với mục tiêu mô hình quản lý khai thác công trình thủy lợi có sự tham gia phù hợp và có sự thống nhất của tất cả các đơn vị, ban ngành địa phương có liên quan và người dân. Đơn vị tư vấn đã hỗ trợ nhóm “Sáng lập” tổ chức họp thảo luận dự thảo mô hình quản lý khai thác CTTL có sự tham giavới các bên liên quan như Cục Thủy lợi Lào, Sở Nông lâm nghiệp tỉnh Khăm Muộn, UBCQ huyện Nỏng Bốc, …

Tổ chức hội thảo giữa kỳ để trao đổi, thảo luận các nội dung liên quan đến mô hình. Một số nội dung đã được thống nhất như sau: i)Tên mô hình: Hội dùng nước cụm Xoong Muang; ii)Loại mô hình: Hội do Ủy ban chính quyền huyện Nỏng Bốc thành lập; iii)Quy mô: 04 bản (Cút Chắp, Song Mương Tai, Song Mương Nưa, Xiêng Vảng); iv)Hình thức: Thành lập mới; v) Thảo luận, thống nhất kiện toàn lại nhóm “sáng lập” gồm 10 thành viên để tham gia cùng tư vấn trong quá trình thực hiện các nội dung còn lại dự án tại địa phương.

2.2.4.    Bước 4: Tham quan học tập mô hình điển hình

Nhằm tìm hiểu, đánh giá một cách khách quan tạo cơ sở thực tiễn để đề xuất các nội dung hoạt động của mô hình quản lý khai thác CTTL có sự tham gia phù hợp. Đội tư vấn đã cùng nhóm “Sáng lập” thực hiện tham quan học tập tại một số mô hình điển hình trên địa bàn tỉnh Savannakhet và tại Khăm Muộn. Thông qua các mô hình điển hình các bên liên quan đã có cái nhìn chi tiết, cụ thể hơn về thực tế quản lý vận hành CTTL tại Lào thông qua đó dự thảo các nội dung hoạt động của mô hình đầy đủ, chi tiết và chính xác hơn.

2.2.5.    Bước 5: Dự thảo các nội dung liên quan

Để đảm bảo các nội dung liên quan đến Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi có sự tham gia phù hợp với yêu cầu thực tế của địa phương và dự án, đội Tư vấn phối hợp cùng nhóm “Sáng lập” làm việc với các tổ chức cá nhân có liên quan để thảo luận thống nhất và dự thảo một số nội dung liên quan.

Một số kết quả được thống nhất như sau: i) Thảo luận thống nhất danh sách trù bị thành phần, cơ cấu tổ chức mô hình; ii) Xây dựng dự thảo Quy chế hoạt động, Quy chế Tài chính, Kế hoạch phân phối nước…; iii)Trao đổi thảo luận nội dung các dự thảo với các bên liên quan như Sở Nông lâm nghiệp tỉnh Khăm Muộn, Ủy ban chính quyền huyện Nỏng Bốc, các bản hưởng lợi và đại diện người hưởng lợi; iv) Chuẩn bị Hội nghị thành lập Hội sử dụng nước

2.2.6.    Bước 6: Tổ chức Hội nghị thành lập

Hội nghị thành lập Tổ chức quản lý khai thác CTTL có sự tham gia là một bước vô cùng quan trọng trong việc chính thức công nhận tổ chức và hoàn thành các thủ tục pháp lý để tổ chức đi vào hoạt động. Tổ chức được thảo luận thống nhất là Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang.

Kết quả Hội nghị đã bầu được Ban điều hành của Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang gồm có 1 Chủ tịch hội, 02 phó chủ tịch hội….và các thành phần liên quan và thảo luận, thống nhất được các nội dung trong Quy chế hoạt động, Quy chế tài chính, Kế hoạch phân phối nước có sự tham gia…

2.2.7.    Bước 7: Hoàn thành các thủ tục pháp lý

Để đảm bảo tính pháp lý cho hoạt động của Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang, đội tư vấn đã hỗ trợ Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang sau khi thành lập hoàn thiện các thủ tục pháp lý như Quyết định thành lập, Quyết định ban hành Quy chế hoạt động, Quy chế quản lý tài chính. Các Quyết định thành lập, ban hành Quy chế đã được UBCQ huyện Nỏng Bốc ký ban hành.

2.2.8.    Bước 8: Tập huấn, nâng cao năng lực

Để đảm bảo năng lực cho Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang trong quản lý, vận hành CTTL, đội tư vấn đã tổ chức đánh giá nhu cầu đào tạo, xây dựng bộ tài liệu đào tạo nâng cao năng lực về quản lý, vận hành CTTL và Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực cho Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang và các thành phần có liên quan.

Ngoài ra, để đảm bảo công tác quản lý vận hành CTTL được thực hiện bài bản, khoa học, tiết kiệm. Các đơn vị liên quan đã hỗ trợ Hội SDN xây dựng và ban hành kế hoạch phân phối nước có sự tham gia. Đây là cơ sở quan trọng trong quá trình quản lý vận hành phân phối nước sau khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng.

III. KẾT LUẬN

Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang đã được thành lập bài quản theo đúng quy trình trên xuống, dưới lên và có sự tham gia của tất cả các thành phần có liên quan trong các giai đoạn từ chuẩn bị đề xuất mô hình, xây dựng dự thảo, trao đổi thảo luận thống nhất đến thành lập mô hình.

Kết quả Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang đã được Ủy ban chính quyền huyện Nỏng Bốc ra quyết định thành lập theo đúng quy định của pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Quy chế hoạt động, Quy chế quản lý tài chính đã được thảo luận, thống nhất rất kỹ lưỡng và được Ủy ban chính quyền huyện Nỏng Bốc, các bản hưởng lợi ban hành. Đây là những cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang đi vào hoạt động sau khi được bàn giao công trình từ dự án.

Hội sử dụng nước cụm Xoong Muang và các thành phần có liên quan như chính quyền địa phương, người hưởng lợi đã được đào tạo tập huấn nâng cao năng lực một cách chi tiết và đầy đủ từ văn phòng đến ngoài thực địa.